BẤT CHỢT Mai vàng

BẤT CHỢT Mai vàng

Tiểu thuyết của NGUYỄN TRÍ HUÂN

Ghi chú trước khi vào truyện: “Tôi là một nhà văn chuyên viết Truyện hư  cấu. Nhưng những gì tôi ghi lại dưới đây theo lời kể của ông Cáp, một người  đồng đội của anh tôi là sự thật.

Sự thật về một cuộc chiến tàn khốc đã lùi xa  hơn 50 năm và cũng đã đến lúc nó cần được khép lại. Khép lại để những con  người tham gia cuộc chiến ấy ở cả hai phía có thể sống trong sự tĩnh lặng của đời  thường, và cũng bởi cuộc đời như một tấm áo họ đang may dở, hãy để cho họ  đơm nốt những chiếc khuy áo cuối cùng”… 

Trích NHÀ VĂN & CUỘC SỐNG – SỐ 15-2023 ✦ 39

Hình như một thoáng chốc, cái gốc đào năm ngoái dựng ở góc

vườn chưa kịp khô thành củi thì tháng Chạp đã xồng xộc  ập đến khi dịch Covid từ chỗ dăm, bảy chục FO thời giãn  cách đã tăng lên ngùn ngụt với dăm bảy ngàn ca nhiễm mỗi ngày. Năm ngoái  còn nơm nớp coi FO như bệnh nan y, bệnh hủi, giờ đã chấp nhận nó, sống  chung với nó, thậm chí coi thường nó. Người dân mình kể cũng lạ, có thể  quen với mọi thứ, thích nghi với mọi thứ, kể cả sự dậm dọa của cái chết. Có  người nói: Đó là đặc tính của một dân tộc vừa bước ra khỏi một cuộc chiến. 

Nhưng câu chuyện của gia đình tôi, của chị dâu tôi, anh tôi lại được bắt  đầu dăm, ba năm về trước. 

Năm ấy, cũng vào một chiều cuối tháng Chạp, tôi về quê ăn giỗ họ và  làm lễ nhập họ cho thằng cháu út vừa đầy tháng tuổi. Xong việc, tôi về nhà  chị dâu tôi. Hai chị em ngồi trên bậc tam cấp của ngôi nhà thờ. Chị tôi ăn  trầu nhặt rau còn tôi hút thuốc lào vặt. 

– Hôm nào chú cho thằng bé về. Tôi chân đau không ra với nó được. Bảo  mẹ nó đẻ ít ít thôi. Nuôi con cực lắm. Chị tôi vừa bó rau thành từng bó phân  ra từng loại, bảo tôi. 

– Tết em sẽ cho cháu về với bà. Mà chị ăn trầu từ bao giờ thế? – Tôi học u. Ngày trước, tôi sợ nhất những miếng bã trầu của u. Nó y hệt  con gián. Mà chú có thấy không, u 99 tuổi, vẫn không rụng chiếc răng nào là  nhờ ăn trầu đấy. 

Chợt có tiếng lao xao ngoài đầu ngõ rồi có tiếng gọi vọng vào: “Có phải  nhà bà Luyến, vợ ông Kháng liệt sĩ không?”. Tôi vụt đứng dậy chạy ra cổng.  Một cậu xe ôm chở một chậu mai vàng chi chít nụ đỗ xịch trước cổng. “Có  người gửi gốc mai biếu bà, nói là cùng đơn vị với ông Kháng!” 

– Người gửi là đàn ông hay đàn bà? Chị tôi hấp tấp hỏi. Miếng bã trầu  đỏ nhòe trên đầu những ngón tay của chị. 

– Đàn ông, mắt kèm nhèm. Ông cụ bảo sẽ đến thăm bà sau. Tôi loay hoay giúp cậu xe ôm hạ chậu mai khỏi yên xe. Một cây mai thế  rất đẹp nhưng hình như nó không làm chị tôi cảm động. Trên khuôn mặt có  phần dửng dưng của chị lờ mờ một điều gì đó. Năm trước ở làng tôi có một  ông đại úy đi chiến đấu mười năm ở chiến trường về phục viên. Ông lấy vợ  đẻ sòn sòn ba năm đôi, toàn con gái. Đẻ đến đứa thứ ba, thứ tư chịu phạt  mấy tạ thóc vẫn ra toàn con gái. Đúng lúc ông đang thất vọng đến rồ dại thì  bỗng đâu, một buổi sáng nọ, có một cậu thanh niên chừng 30 đeo ba lô tìm  đến nhà. Hai người đàn ông nhìn nhau giây lát rồi lao vào ôm chầm lấy nhau.  Họ nhận ra nhau bằng linh cảm trực hệ. Chuyện cứ như chuyện cổ tích. Cậu  thanh niên được sinh ra trên đường giao liên Trường Sơn, nơi ông đại úy gặp  mẹ cậu chỉ thoáng qua như một cơn gió.

Chuyện ông đại úy có con rơi làm ầm làng ầm xóm một thời gian dài.  Khiến các bà các thím có chồng đi bộ đội thời chống Mỹ không khỏi nơm  nớp lo lắng. Hình như chị dâu tôi cũng đang ở trong cái tâm trạng ngờ vực ấy. – Chú này, hay là của bà Hương ở Đà Nẵng gửi cho nhỉ? 

Bà Hương, O Hương của mấy mươi năm trước người cùng đơn vị với  anh tôi. Chị tôi mới gặp bà vào năm chị theo đoàn cựu chiến binh Lữ đoàn  Tên lửa vác vai ĐKB vào khánh thành đài tưởng niệm ở Đà Nẵng. – Cậu xe ôm chả bảo là của một ông cụ đấy thôi. 

– Là của ai thế không biết. Thôi kệ. Cá người nhảy ao ta. Mà chú còn đứa  cháu nào nữa thì cứ đưa về đây, tôi nhận, tôi chia đất cho mà ở. Chị dâu tôi  cười, môi và kẽ răng hồng lên màu nước trầu. Anh chú ngày xưa đào hoa lắm. 

Tôi biết, sau đó, chị tôi còn gặp ông Cáp, người cùng nhập ngũ, cùng đại  đội với anh tôi để hỏi cho ra nhẽ nhưng ông Cáp cũng không thể đoán ra ai  là chủ nhân của chậu mai vàng đó. 

Tết năm ấy, nhà chị dâu tôi là nhà duy nhất trong xóm có mai vàng.  Nhưng thật oái oăm, hàng trăm cái nụ hoa to bằng đốt ngón tay chi chít từ  gốc tới ngọn cứ câm nín, dứt khoát không chịu nở. Sau rằm những nụ hoa ấy  thâm đen lại rụng lả tả dưới gốc. 

Năm sau, tôi chở chậu mai ra gửi ở vườn đào Nhật Tân, thuê người  chăm hộ nhưng cũng chỉ được lác đác dăm bông hoa vàng nhợt bé như cúc  áo. Đành rằng, mai vàng là loại hoa của đất phương Nam, thuận với nắng và  gió, không chịu rét như mai trắng, mai tứ quý trên đất Bắc. Người Bắc thích  mai vàng là thích cái màu vàng ám ảnh của nó. Nhưng cũng chỉ sau Tết, hoa  tàn, người ta dặm nó ở góc vườn rồi quên đi bởi rất hiếm khi nó chịu nở hoa  trở lại. Có thể vì thế, cây mai của chị dâu tôi cứ câm nín trong nhiều năm, trở  thành cây cảnh trước cửa nhà tôi. Còn cái người gửi chậu mai cho chị dâu tôi  thì vẫn không thấy quay lại như đã hứa. Có lần chị dâu tôi bảo: “Chú là nhà  báo đi nhiều, quen nhiều, thử cố tìm xem người ấy là ai, ở đâu. Còn sống hay  đã chết. Mình cũng phải có lời cảm ơn họ. Chết thì phải có nén nhang.” Thì  ra, trong tâm thức chị, người gửi chậu mai cho chị, cho đến ngày chị mất, vẫn  là một câu hỏi lớn.

Trước Tết một tuần, thằng cháu, con thứ ba của chị dâu tôi bất chợt gọi  điện cho tôi, giọng méo mó, ngàn ngạt. “Mẹ cháu sắp mất rồi.” Tôi giật mình  hỏi các cháu đã test nhanh cho mẹ chưa? Mẹ có bị nhiễm Covid không?  Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng khóc của con chị cả. Vội, nhưng cũng phải  một giờ sau, cả nhà tôi mới nhồi nhét lên chiếc xe bẩy chỗ chạy hấp hoảng  về quê. Lần đầu tiên trong nhiều năm, tôi thấy thời gian trôi đi quá ư chậm  chạp. Dọc đường, gió cứ thổi hun hút dọc triền đê cùng với đào quất loi thoi  tỏa về các ngõ xóm. Xem ra, Tết năm nay cũng sẽ chẳng kém cạnh gì những  cái Tết chưa có con covid. Riêng với gia đình tôi, tôi xác định, năm nay nhà  mình sẽ không có Tết. Cháu tôi nói “sắp” có nghĩa là chị tôi đang ở vào giai  đoạn còn nước, còn tát. 

Cách đây mấy tháng, chị tôi đột ngột trở bệnh sau một cú bước hụt từ  thềm nhà xuống sân. Bắt đầu những tháng ngày nằm liệt giữa mùa dịch đang  ở vào giai đoạn đỉnh điểm. 

Thực ra, trước đó, chị tôi đã nhớ nhớ quên quên, nhầm lẫn ngay cả với  con, với cháu. Lần nào về tôi cũng thấy chị gói ghém đồ đạc, buộc vào hai đầu  chiếc đòn gánh. Tôi hỏi, chị cười, một nụ cười thật hồn hậu: ‘Thì đi đón anh  chú về chứ đi đâu”. Cháu tôi bảo, nhiều hôm không tìm thấy mẹ trong làng,  cháu tôi phóng xe lên nghĩa trang. Chị tôi đang ở đó, trước ngôi mộ của anh  tôi. Cũng thật lạ, bởi ngày xưa, chị không mấy mặn mòi với anh tôi, lúc nào  cũng tỏ ra có cũng được mà không có cũng được. Chị chỉ thực sự thay đổi  khi ông đại úy bất ngờ có con riêng, nhất là sau cuộc gặp với bà Hương ở Đà  Nẵng. Hình như tâm trạng của chị là tâm trạng của một người luôn lo lắng  chồng mình, bố của các con mình sắp bị một người đàn bà nào đó, ở đâu đó  cướp mất. 

Khi tôi về đến nhà thì sân trên, sân dưới nhà chị tôi đã tấp nập người.  Đám thợ của nhà cho thuê đồ hiếu đang hối hả dựng rạp. Những dãy bàn  inox sáng choang được kê cách xa nhau, thỉnh thoảng lại bật lên những âm  thanh của kim loại va trên nền gạch. Trong nhà, trên chiếc sập gụ kê ở gian  giữa, dưới ban thờ, chị tôi nằm thoi thóp, khuôn mặt nhợt nhạt. Tôi xót xa 

nhìn chị. Mới hôm nào, môi chị, răng chị còn hồng lên bởi nước trầu khi chị  nhận cây mai vàng, quà Tết của một ai đó cùng đơn vị với anh tôi. Bây giờ đôi  môi chị thâm đen, co lại để lộ những chiếc răng ố vàng. Chị tôi thuộc diện  đẹp lão. Một vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu của tuổi già nhưng chưa mất đi hoàn  toàn dấu vết của vẻ đẹp thời son trẻ. 

Vào thời điểm này, làng tôi có đến sáu, bảy trăm người nhiễm Covid.  Những tấm biển đỏ cách ly y tế được treo xôi đỗ ở nhiều ngôi nhà trong các  ngõ xóm. Mặc kệ con Covid, người thân, bạn bè của chị tôi, các cháu tôi cứ  từng tốp, từng tốp đến hỏi thăm, nói là để gặp mặt chị tôi lần cuối. Nghĩa  tử là nghĩa tận. Nhiều cuộc điện thoại của các FO, bạn bè các cháu tôi cũng  liên tục gọi, hỏi han, chia sẻ và đều tỏ ra lấy làm tiếc vì không thể đến được. 

Tháng trước, tôi đến dự một đám tang hết sức hy hữu. Anh con trai  cả của người quá cố đang mắc kẹt ở Anh không về chịu tang mẹ được. Ở xứ  người, anh ta cũng lập bàn thờ, quay video trực tiếp, phát trực tiếp qua một  màn hình lớn. Ở bên này, người đến viếng cúi đầu tưởng niệm, ở bên kia anh  ta cũng đáp lễ và nói lời cảm tạ. Một đám tang đặc trưng của thời công nghệ,  thời Covid. 

Tôi ở nhà một ngày, hai ngày. Chị dâu tôi vẫn nằm đó, bất động và dạn  dĩ. Những cây đào trồng ở vườn nhà đã chập chờn những bông nở đầu tiên,  đỏ bầm, đỏ như được chắt ra từ nhựa cây, từ giá rét. Chỉ còn vài ba ngày nữa,  qua mồng một Tết, theo cách tính của ông bà ta, chị dâu tôi sẽ tròn 90 tuổi. 

Chị dâu tôi là vợ liệt sĩ. Chị ở góa từ năm mới ngoài 30 tuổi. Một nách  bốn con. Lớn lên chúng tỏa đi khắp nơi để trong một thời gian dài, chị sống  có một mình. Thằng con thứ ba của chị, vì là con liệt sĩ nên được Bộ Quốc  phòng phân một căn hộ ở quận Cầu Giấy. Nó tính bỏ quê, bỏ làng đưa mẹ  và vợ ra thành phố nhưng chị tôi không chịu. “Thế còn mộ bố mày thì bỏ  cho ai”. Chị tôi bảo. “Có quản trang mẹ lo gì. Vả lại, mẹ muốn về lúc nào chả  được”. Rốt cuộc, gia đình cháu tôi phải chia hai. Vợ và hai đứa con ở Hà Nội,  còn cháu tôi ở nhà với mẹ, thay bốn anh chị em chăm mẹ. 

Sau hai ngày chị tôi chuyển bệnh, các cháu tôi lần lượt trở về, đứa nào  cũng thất thần, mếu máo khi vừa vào đến cổng. Đây là lần đầu tiên sau 50 

năm, chúng cùng trở về tụ họp đầy đủ bên mẹ. Âu đó cũng là niềm hạnh phúc  của chị tôi, của các cháu. Có lẽ đó cũng là lý do để chị tôi dùng dằng không  nỡ, không chịu dứt bỏ cõi sống của mình. 

Nhưng dẫu sao, cả nhà tôi vẫn cứ hồi hộp, nơm nớp lo chị tôi sẽ ra đi  bất chợt vào đúng dịp Tết. Giữa lúc đó, cháu dâu tôi một cô giáo tiểu học,  từ Chèm Vẽ trở về vui vẻ thông báo: “Cô chú và cả nhà yên tâm. Cháu vừa  đi xem về. Thầy gọi vía mẹ cháu lên. Vía bà bảo còn muốn ở thêm một xuân  nữa cho đầy 90 tuổi.” Tôi bán tín bán nghi nhưng cũng tạm yên lòng để trở  về thành phố. Về nhưng vẫn cứ ngong ngóng chờ nghe một cuộc gọi điện  thoại bất chợt. 

Chiều hăm bảy Tết, lúc tôi đang xăm soi nhìn cái đen đúa của chậu mai  trước nhà thì cháu tôi đột ngột gọi điện bảo:” Cô chú đừng lo, mẹ cháu có  phần tỉnh táo hơn trước”. Tôi thở phào, dặn phải test nhanh cho mẹ để biết  mà phòng tránh. Dặn, nhưng tôi vẫn không khỏi lo lắng bởi ở làng tôi những  người chết vì dịch covid đã phải ra đi côi cút và chỉ được trở về trong một  bình tro cốt nhận lại từ nhà hỏa táng trong thành phố. 

Chị Luyến, tên của chị dâu tôi về làm dâu mẹ tôi từ hồi còn rất trẻ. Chị  hơn anh tôi ba tuổi. Ngày đó trai gái nên chồng nên vợ chủ yếu từ mối lái.  Thấy bảo đêm đầu tiên, chị cuộn chăn nằm trên giường, còn anh tôi đắp  chiếu nằm dưới đất. Đêm sau chị trốn về nhà mẹ đẻ. Từ hôm đó, sáng nào tôi  cũng phải lên nhà chị ở xóm trại, đứng ở ngoài đường, gọi vọng qua cái ao  nhỏ đầy bèo tấm. “Chị Luyến ơi, u bảo về đi cấy.” 

Hồi còn trẻ, chị tôi nổi tiếng là một phụ nữ đẹp. Không hiểu vì lý do  nào mà chị lại thuận lấy anh tôi, một anh chàng tóc bạc sớm, lưng cong. Anh  tôi chỉ được cái tính tốt bụng. Cả làng cả xóm ai nhờ cậy việc gì cũng làm,  cũng nhận. Có thể chị bằng lòng lấy anh sau ngày anh tôi liều nhảy xuống  cứu ông chánh Hàm, bố đẻ chị bị chuột rút tưởng chết đuối giữa ngòi nước.  Gả chị cho anh tôi, một phần ông chánh muốn trả ơn anh tôi. Thêm nữa, ông  còn bảo Tướng mạo anh tôi sau này sẽ làm nên chuyện. “Cứ nhìn cái dái tai  to, dày cong lên của nó thì biết”.

Nhà tôi nghèo nhưng trong cải cách lại bị quy là địa chủ. Có lẽ bởi bố  tôi đi lính đánh thuê cho Pháp. Sau, bố tôi lại bị chính lính Pháp bắn chết  trong một trận càn khi đã giải ngũ về làng. Nhưng cái chết tức tưởi của ông  chẳng minh chứng được điều gì. Mẹ tôi vẫn bị đưa ra đấu tố ở sân đình. Chị  tôi, một nách bốn con cùng với anh tôi đã phải cầm cự từng ngày để vượt qua  thời gian bị cách ly, bị tịch thu toàn bộ gia sản. 

Sau sửa sai, nhà tôi xuống thành phần trung nông nhưng cái án bố tôi  đi lính Pháp thì vẫn cứ dai dẳng, bám chặt lấy lý lịch của gia đình tôi. Thời kỳ  này là thời kỳ hết sức nhạy cảm ở làng quê tôi, cũng như ở mọi làng quê khác.  Những người được chia ruộng, được cứu sống thì câu nói cửa miệng của họ  khi được hỏi là câu trả lời: “ơn Đảng, ơn Chính phủ”. Còn những kẻ bị mất  nhà, mất đất thì mỉa mai: “Không dám, Ông dạ Đảng”… Tình trạng đối đáp  kiểu ấy chỉ thực sự mất đi khi chiến tranh lại đột ngột ập đến. 

Chị dâu tôi năm đó đã có đến bốn mặt con. Nhà tôi làm hàng xáo. Suốt  ngày xay thóc, giã gạo quần quật từ tối đến sáng. Lời lãi chỉ là chút gạo tấm  và cám lợn. Vào mùa vụ, chị tôi buôn mía từ chợ Đọ bên kia sông Cái về bán  ở chợ Dày, chợ Gối. Tôi lúc giã gạo, lúc xay lúa, có lần giấu thịt lợn trong  dẫy vải, đi tắt qua các cánh đồng Chèm, Vẽ ra Hà Nội bán lậu. Dạo ấy chính  sách lương thực, thực phẩm của nhà nước nghiêm nhặt lắm. Khối người đã  bị phạt, bị bỏ tù vì buôn lậu rượu và thịt lợn. Để thịt lợn lậu, khi bắt lợn,  người ta đổ tro vào bao tải rồi chụp vào đầu lợn. Lợn bị sặc không kêu được.  Cạnh nhà tôi là trụ sở Ủy ban xã. Trước, nó là ngôi nhà hai tầng của viên  quan một đã trốn vào Nam, sau hiệp định đình chiến. Có một câu chuyện  mà cho đến giờ tôi không sao quên được và cũng không thể cắt nghĩa được.  Một hôm thấy có một lọ mực đỏ ai đó chắc là đi kẻ khẩu hiệu về để ở cổng  trụ sở Ủy ban. Tôi cầm lên, lấy một cây que cẩn thận tô lên bức tường cạnh  cổng dòng chữ: “Ủy ban nhân dân xã Hạ Mỗ”. Bên dưới không biết suy nghĩ  thế nào, một cách vô thức, tôi viết: “ăn vụng thịt nhà tao là…” Tôi định viết  là cu Hùng, để trêu chọc thằng bạn thân nhất của tôi, thì có tiếng mẹ tôi gọi.  Tôi bỏ dở câu định viết rồi quên khuấy. Sáng hôm sau, tôi vừa ngủ dậy chưa  kịp xúc miệng thì ông thư ký ủy ban, là ông đại úy có con rơi sau này cùng với  hai dân quân xộc vào nhà. Ông vặn tai tôi kéo ra ngoài cửa Ủy ban, chỉ vào 

 

dòng chữ: “Mày viết có phải không? Đồ con phản động”. Tôi tái mặt, vừa lắp  bắp chối vừa đọc lại dòng chữ. Thôi chết rồi, tình ngay, lý gian. Nếu đọc liền  một mạch hai dòng chữ trên sẽ thành một câu chết người “Ủy ban nhân dân  xã Hạ Mỗ ăn vụng thịt nhà tao là…” cũng may còn chữ là viết dở. Giữa lúc tôi  còn dang ấp úng thì chị dâu tôi đi rửa bèo ngoài ao chùa về. Chị đặt rổ bèo  xuống cổng Ủy ban, mặt ngửa lên nhìn ông thư ký: “Tôi viết đấy, nó trẻ con  biết gì”. “Thế có nghĩa là chị phản ứng chính sách lương thực của Nhà nước  phải không?” Chị tôi khép vạt áo che chỗ sữa đang rịn ra ướt đẫm trên ngực  yếm. Ngày đó, chị tôi đang nuôi thằng cháu út được dăm tháng tuổi. Tuy đã  bốn mặt con nhưng chị tôi vẫn đẹp, một vẻ đẹp nẩy nở, vỡ da vỡ thịt. Ông  thư ký Ủy ban vẫn thường buông lời ỡm ờ mỗi khi gặp chị. “Các ông nói thật  buồn cười, hai dòng chữ khác nhau. Ông không thấy còn chữ “là” à. Chị tôi  nói. “Là ai, là gì”. Ông Thư ký vặn. Chị tôi cười, đôi mắt nhuần hẳn xuống  “Là cái đứa nó dám ăn trộm lợn nhà ông đấy”. Chả là mới tháng trước, nhà  ông Thư ký bị kẻ gian bắt trộm một con lợn bánh tẻ. Ông đang hô hoán dân  quân truy tìm nhưng vẫn chưa phát hiện ra thủ phạm. 

Ông Cáp, một trong hai dân quân đi cùng ông thư ký Ủy ban cũng nói  đỡ: “ Bác chấp thằng bé làm gì, nếu có ý xấu, dại gì nó lại viết như thế!”. 

Đuối lý, ông Thư ký Ủy ban cùng hai dân quân bỏ đi. Được một quãng  ông quay lại: “Khôn hồn thì xóa đi. Lần này tao tha, lần sau tù mọt gông,  nghe chửa!” Ông dứ dứ nắm đấm về phía tôi. 

Sau chuyện không đâu vào đâu ấy, chị tôi bảo: “Chú đừng viết bậy, viết  bạ. Khôn nhà dại chợ”. Tôi không hề biết rằng, lý lịch của gia đình tôi lại được  chua thêm một dòng chữ: “Nhà có dấu hiệu chống đối chính sách lương thực  của Đảng”. 

Cũng có thể vì cái lý do ấy mà mấy năm sau, tôi mãi vẫn không được kết  nạp vào Đoàn, em gái tôi không được vào đội Thiếu niên Tiền phong. Một  bầu không khí lẻ loi bao trùm lên căn nhà nhỏ của mẹ và anh chị tôi. 

Chiến tranh bất ngờ ập xuống làng tôi vào buổi trưa. Nó ập đến trong  khoảnh khắc rồi rút đi cũng trong khoảnh khắc. Nhưng những gì nó để lại 

cho làng tôi thì thật khôn lường. Nhà cháy, người chết. Mọi suy nghĩ của lớp  người như anh tôi bị đảo lộn. Cho đến mấy ngày sau, một nỗi sợ hãi ngấm  ngầm vẫn vây bủa họ. 

Trước buổi trưa xảy ra cuộc ném bom xuống làng hai ngày, có một đơn  vị bộ đội ồn ào kéo về làng vào giữa đêm. Họ tỏa ra ở tất cả mọi nhà. Trông  người nào cũng mập mạp, ra tấm ra món. Đó là theo cách nói của các chị sồn  sồn, nạ dòng. Ban ngày họ hội họp ở đình làng. Tối đến tập trung thiếu nhi  lại múa hát. Tiếng đàn măng đô lin và tiếng kèn ácmônica vang lên réo rắt.  Rồi những con bò bị quật ngã, thịt bày la liệt ở gốc duối xóm Chùa. Nghe  nói đơn vị này đang nghỉ ngơi những ngày cuối trước khi từ giã hậu phương  lên đường đi B dài. 

Vào khoảng xế trưa, giữa lúc mọi người đang nấu nướng trong bếp thì  hai chiếc máy bay Mỹ nhào tới. Khác với những lần trước chỉ bay qua, lần  này chúng bay thấp, tiếng rít đanh như khoan xoáy xuống làng. Chiếc kẻng  phòng không trên cây bàng đầu xóm Trại chỉ kịp gióng lên hai tiếng thì bom  đã nổ rầm rầm tối mặt tối mũi. Sau đó là lửa cháy. Lửa lan từ nhà này sang  nhà khác phừng phực, cuồn cuộn. “Các con ơi, đưa các cháu ra bờ tre, nhanh  lên!”. Mẹ tôi gào lên, tiếng được, tiếng mất. Một loạt bom nữa lại ập xuống  trùm lấp tiếng kêu của mẹ tôi. Mặt đất dãy lên rầm rầm. Tôi ôm đầu nằm chết  gí ở gầm giường, đũng quần ướt đẫm. 

– Khải ơi, thằng Hùng chết rồi. Tiếng gọi của thằng Mẫn. Tôi lồm cồm  bò ra khỏi gầm giường. Có một cái gì đó thôi thúc như lòng tự ái bị thương  tổn, tôi lao ra ngoài, chạy lên nhà thằng Hùng. Lúc ấy, thi thể nó đã được  đưa về nhà, đặt trên chiếc sập gụ kê ở gian giữa. Khuôn mặt nó vỡ nát, nhòe  nhoẹt máu. Nó nằm đó bất động trong lúc bà Nhủ, mẹ nó, đầu tóc rũ rượi  nằm gục dưới chân sập. 

Ngoài đường, tiếng chân người vẫn chạy sầm sập. Cả làng cả xóm cùng  với đơn vị bộ đội lao vào chữa cháy. Những chiếc thuyền tôn chuyên dụng  được lôi xuống từ các gác mái, rồi thùng, chậu được huy động tối đa để đựng  nước dập lửa. Không người nào kịp nghĩ, rất có thể những chiếc máy bay sẽ  còn quay trở lại.

Ở nhà thằng Hùng một lát tôi theo thằng Mẫn xuống xóm Chùa nhập  vào dòng người đang hối hả chuyển nước từ dưới ao đổ đầy các thùng, chậu.  Nước sối ào ào vào các đám cháy. Nhiều thi thể được đưa ra đen nhẫy, co  quắp. Máu. Chưa bao giờ tôi thấy máu người nhiều như thế, đỏ như thế. 

Khi tôi trở về nhà thì trời đã nhá nhem tối. Lạ, sao hôm vẫn mọc như  chưa hề có chuyện gì xảy ra. Một lát sau, anh tôi cũng về. Chị tôi bế thằng  cháu út lập cập chạy về phía anh tôi. Từ người anh nồng lên mùi khét của  máu và lửa. 

– Không biết nó ném loại bom gì. Từ quả bom to bung ra hàng trăm quả  bom nhỏ. Anh tôi nói. 

– May nó không ném xuống xóm mình. Thấy bảo vợ chồng nhà Khảo  chết khi đang nằm ngủ. Tội quá. Tiếng chị tôi. 

Anh tôi im lặng, mặt hướng về phía cổng. Vẫn nghe tiếng chân người  chạy, tiếng gọi văng vẳng ở đâu đó. 

Để lý giải về trận bom, người dân làng tôi cho rằng, mọi việc đều do sự  mất cảnh giác của đơn vị bộ đội. Thời buổi này mà cứ đi nhong nhóng ngoài  đường. Đêm đến thì đèn đuốc sáng choang. Làm sao bọn gián điệp nằm vùng  không gọi máy bay đến. Những người có chức, có quyền trong xã thì bắt đầu  lập danh sách những đối tượng nghi vấn. Điều tệ hại nhất là trong bản danh  sách ngắn ngủi ấy có cả gia đình tôi. 

Anh tôi, trong những ngày đen đủi ấy gầy rộc đi. Anh hay ngồi một  mình trên bộ tràng kỷ hút thuốc lào vặt. Cũng có lúc anh ngồi với tôi, dặn  tôi phải chú ý việc học hành của các cháu, nhắc chúng đội mũ rơm khi ra  đường… Thời gian này huyện cũng có chỉ lệnh, tất cả mọi nhà phải có hầm  trú ẩn, ban ngày đi làm đồng phải khoác áo ngụy trang. Các phiên chợ Dày,  chợ Gối cũng chỉ được họp vào lúc tang tảng sáng. 

Một buổi tối, sau bữa ăn dông dài. Người lớn thì ăn khoai luộc. Trẻ thì  húp cháo loãng. Ở quê tôi, người ta thường coi nhẹ bữa tối, bảo đi ngủ thì  cần gì phải ăn no. Tất cả đều dành cho bữa trưa, bữa sáng. 

– Có lẽ con phải đi bộ đội u ạ. Đi cho các cháu nó đỡ khổ. Nhà mình đâu  phải loại nhà đốn mạt ấy. Anh tôi nói.

Giai đoạn này, sau trận bom, làng tôi vợi hẳn. Trai tráng lần lượt lên  đường. Lác đác đã có dăm ba tờ giấy báo tử. 

– Anh đã bốn mặt con. Ai người ta thèm mướn. Mẹ tôi đập cái quạt  nan xuống đất. Ai nghi kỵ mặc họ. Cây ngay không sợ chết đứng. Mẹ tôi bật  khóc. Anh không thiết sống nữa hay sao. 

Chị tôi bỏ dở bát canh rau muống luộc đang húp dở: 

– Mình không phải đi đâu hết. Các con, tôi lo được. Không học cũng có  chết đâu. 

– Đói ăn chịu được. Bị người ta khinh nhục lắm. Anh tôi thở dài nói. 

Nửa tháng sau anh tôi đi. Cùng đi với anh tôi có ông Cáp, người cùng  làng. Ông Cáp gắn bó với anh tôi như anh em ruột. Ông là Đảng viên, thuộc  thành phần cơ bản. Bố ông trước là Chủ tịch Ủy ban Liên xã Kháng chiến.  Ông Cáp cùng tuổi với anh tôi, là người sau này cùng với đại đội trưởng  Phùng Đăng đã giới thiệu anh tôi vào Đảng. Năm đó, tờ đơn viết bằng máu  của anh được đọc giữa đình làng, trong buổi giao nhận quân. Thực ra ở tuổi  31, lại có đến bốn con, anh tôi nằm ngoài chỉ tiêu tuyển quân. Trường hợp  nhập ngũ của anh tôi trở thành một tấm gương cho thanh niên trong toàn  huyện. Mẹ tôi, vì không cản được con, bà nằm liệt giường, liệt chiếu nửa  tháng trời. Còn chị dâu tôi thì vẫn lặng lẽ chạy chợ như không có chuyện gì  xảy ra. Đôi lần, tôi bắt gặp chị ngồi đờ đẫn bên thúng gạo. Cặp mắt đẹp, rợp  bóng nhìn vô định vào một khoảng không nào đó. 

II 

Anh trai tôi lớn hơn tôi 10 tuổi. Đó là khoảng thời gian bố tôi đi lính  đánh thuê cho Pháp. Đi để lấy tiền làm nhà, tậu ruộng chứ không hề có khái  niệm gì về dân tộc, đất nước như mấy ông Ủy ban thời cải cách gán ghép cho  bố tôi tội phản quốc. Anh tôi là một con người hiền lành, thích đi đây đi dó,  thích đọc sách. Chính nhờ những cuốn sách của anh mà sau này, tôi đã tìm  đến với văn chương, viết lách. Vào những tháng nông nhàn, anh tôi thường  khăn gói cùng bạn bè đi làm thợ đấu ở Yên Bái, Hòa Bình hoặc làm phụ nề,  khiêng panel xây những tòa nhà cao tầng đầu tiên ở Hà Nội. Có một câu cửa 

miệng của anh tôi hay nói: “Lơ tơ mơ con chim xanh”. Một câu nói chẳng có  nghĩa gì cả nhưng lại vận vào cuộc đời của anh tôi như một định mệnh. 

Nhập ngũ, anh tôi được biên chế vào Lữ đoàn tên lửa vác vai ĐKB,  chuyên tập kích các căn cứ địch. Anh là quản lý đại đội, đang phấn đấu vào  Đảng. Anh bảo muốn cho các con mở mày, mở mặt thì mình phải là Đảng  viên. Ông Cáp và những người đồng đội còn sống của anh tôi kể rằng, cùng  đơn vị với anh tôi có ông Tuân, người Thọ An, cùng tỉnh cùng huyện. Ông  Tuân là giáo viên cấp ba, nhà con một. Ông có đầy một bụng chữ nhưng nhát  gan và có những suy nghĩ rất lạ, có phần kì quoặc không giống ai. 

Vị trí chọn đứng chân của đơn vị anh tôi là một khu rừng xơ xác vì chất  độc hóa học. Khi chọn vạt rừng chết này làm nơi trú quân Đại đội trưởng  Phùng Đăng bảo: “Mình phải ở vào chỗ địch nó không ngờ nhất. Các cậu  cứ chia nhau, chọn hang đá mà ở”. Có người hỏi sao không chọn những khu  rừng cây cối còn xanh, đỡ phải ngụy trang, lại che được sự dóm ngó của máy  bay trinh sát OV.10, L.19. Đại đội trưởng cười: “Rồi các cậu xem nó còn  xanh được mấy bận nữa”. 

Quả nhiên, đến ngày thứ ba, pháo bầy, B52 liên tiếp dập xuống phá hủy  nốt những mảng xanh còn lại. Riêng vị trí trú quân của đại đội anh tôi thì vẫn  hoàn toàn yên tĩnh. Chỉ nước ăn là phải đi xa hàng cây số gùi về. Nước ở con  suối chảy ngoằn ngoèo dưới chân các hang đá bị nhiễm độc, chỉ có thể giặt  giũ tắp tám chứ không nấu ăn được. 

Suốt ba năm trời, đơn vị anh tôi quần lộn, bám trụ ở vùng Tây Đại Lộc,  Quảng Nam, liên tiếp hứng chịu những đợt pháo bầy, những trận B52 khốc  liệt. Có lần, hậu cứ của đơn vị bị tập kích. Đại đội trưởng bị thương, anh tôi  đã cõng ông vượt qua những ngọn đồi lởm chởm đá, dưới làn đạn bắn chặn  của địch, giấu ông ở một khe suối cho đến khi địch rút, đêm xuống. 

Ông Cáp bảo nếu đơn vị ông không sơ suất để một tên điệp viên trá  hàng trà trộn vào đơn vị, không để xổng một thằng phi công ngụy lái tàu rọ  không may bị rớt đúng vào đội hình hành quân của đại đội thì đơn vị anh tôi  đã trở thảnh đơn vị anh hùng từ những năm trước đó.

Người để xổng thằng phi công chính là ông Tuân và một cậu vệ binh trẻ  của Lữ đoàn. Hôm đó, đại đội của anh tôi hành quân trong một khu rừng  đang héo rũ vì chất độc hóa học thì bất ngờ một chiếc tàu rọ từ phía biển bay  ngược lên rà sát ngọn cây. Cũng không hiểu sao, nó đột nhiên dừng lại, cánh  quạt quay lảo đảo, rồi rớt xuống. Một tai nạn hy hữu. Viên phi công ngụy bị  bắt sống. Người tóm gọn được anh ta là ông Cáp và anh tôi. Sau đó, viên phi  công được giao cho ông Tuân và một cậu lính trẻ trong đội bảo vệ dẫn về Sở  chỉ huy Lữ đoàn. Sở dĩ đại đội trưởng phân công ông Tuân đi áp giải tù binh  vì trong đội hình hành quân, ông Tuân luôn lóng ngóng, đùn đẩy công việc  nặng cho người khác. Ông Cáp, tiểu đội trưởng của ông Tuân bảo: “Thôi,  trận này để nó về Lữ đoàn cho rảnh mắt”. 

Ba người, ông Tuân, anh lính vệ binh và viên phi công vừa bị bắt đi  ngược lên con dốc họ vừa đổ xuống. Nửa tiếng sau, những chiếc HU1A đã  quần lộn tìm kiếm. Cánh quạt chém gió tơi tả. Để giữ bí mật cho trận tập  kích sắp tới. Đại đội trưởng ra lệnh cho đơn vị nằm im, giữ vững đội hình,  không nổ súng. 

Đêm hôm đó, ba người nghỉ trong một hang đá nhỏ ở lưng chừng một  ngọn núi. Viên phi công là một sĩ quan trẻ, khá điển trai, chừng hăm lăm,  hăm sáu tuổi. Cậu ta bị anh lính vệ binh bắt cởi giầy, tay bị trói bằng một  sợi dây mây có rất sẵn ở rừng Quảng Nam. Lúc những chiếc trực thăng rà  sát đỉnh rừng soi mói, tìm kiếm, ông Tuân thấy đôi mắt viên phi công lấp lóe  một tia hy vọng nào đó, và khi chúng bất lực bay chúi trở lại phía thành phố,  đôi mắt ấy chợt cụp xuống, đau đớn. Trong lúc anh chiến sĩ vệ binh xuống  chân núi tìm nước nấu cơm chiều, ông Tuân lúi húi nhóm một đống lửa. Vừa  đưa đôi bàn tay bị trói nắn nắn đầu những ngón chân đỏ rực, gã tù binh lấm  lét nhìn ông Tuân. 

– Quê cậu ở đâu. Ông Tuân bất ngờ hỏi, khi nhìn cái bóng của viên phi  công chập chờn trên vách đá. 

– Dạ, em ở Quy Nhơn. Ba em trước cũng là du kích. 

– Ba cậu là du kích sao cậu lại vào lính ngụy?

– Em bị bắt lính khi đang học năm thứ ba đại học Luật khoa Sài Gòn. 

“Thì ra, nó cũng như mình, đều bị bắt, bị ném vào một cuộc chiến chả  đâu vào đâu”. Ông Tuân cay đắng nghĩ. 

Trong suốt chuyến đi, ông luôn nhìn viên phi công trẻ với một vẻ mặt  thương hại. Nếu lột bỏ bộ đồ bay loang lổ nó chẳng khác gì ông, cũng máu,  cũng da, cũng thịt. Khi ông hỏi tại sao lại bay lên rừng vào thời điểm đó. Nó  đáp nó đi săn nai. Trên những vạt đồi cháy nham nhở do bom đạn, những  bầy nai hàng chục con thường mò đến ăn tro vì thiếu muối. Nó còn bảo  không ngờ ở vùng ranh gần thành phố như vậy lại có nhiều quân giải phóng  đến thế. 

Ông Tuân tin những lời viên phi công nói. Ông cậu tớ với nó, còn hứa  nếu ba nó vẫn đang ở chiến khu ông sẽ tìm cách liên lạc giúp. 

Sớm hôm sau, ông Tuân bảo cậu lính trẻ: 

– Thằng này tã lắm rồi. Chân nó sưng tấy, dập nát. Thôi, trả giày cho nó.  Cả dây trói nữa. Không bấu víu được, cứ đi chậm như rùa bò. Biết đến lúc  nào mình mới mò về được đơn vị. 

Anh lính vệ binh do dự một lát rồi cũng tặc lưỡi trả giày, cởi trói cho  viên phi công và sự việc không ai lường trước đã xẩy ra. Buổi chiều, lúc ba  người đi vòng quanh một tảng đá lớn, khi cậu vệ binh đi trước đã khuất ở bên  kia hòn đá, bất ngờ viên phi công quay ngoắt lại, nhanh và mạnh như một  con báo. Anh ta chồm tới xô ngã ông Tuân, giật lấy khẩu súng trên tay ông  lao vào rừng. Sự việc xảy ra nhanh đến nỗi khi anh lính vệ binh kịp quay lại  thì ông Tuân không còn biết gì nữa. Gáy ông đập vào một viên đá nhọn khi  ngã, máu tuôn ra ướt đẫm trên cổ và vai áo. 

Sau này, khi ông Tuân bỏ trốn, có người trong đại đội nói rằng ông Tuân  đã dùng khổ nhục kế để giúp viên phi công trốn thoát, rằng mấy ngày áp giải  tù binh, ông đã bị viên phi công mê hoặc… 

Nhưng đấy là câu chuyện của dăm bảy tháng sau đó. 

*

Ông Cáp bảo cả đại đội của ông, những người lính tên lửa thiện chiến  luôn thiếu thốn, ăn đói, mặc rách nhưng đều gọi ông Tuân là nhà thơ. Ông  Tuân cao, gầy, tóc lúc nào cũng được vuốt gọn. Những hôm hành quân nhìn  ông Tuân vác cái máng nòng pháo dài gần hai mét, nặng 35 ký, không ai nhịn  được cười. Chỉ được một lát, ông đã xoay ngang nòng pháo, vác bằng cả hai  vai trông như một cây thánh giá cụt. Vốn là một giáo viên cấp 3 lại dạy văn  nên ông biết nhiều, đọc nhiều. Buổi tối mọi người thường tụ tập ở hang đá  của tiểu đội ông, nghe ông đọc thơ, kể chuyện. Ông kể chuyện Tam quốc,  Tây du ký, Những người khốn khổ từng chương một cách rành rẽ như đang  đọc sách vậy. Vào những buổi sinh hoạt đại đội, mọi người đều yêu cầu đồng  chí Xuân ngâm thơ. Như chỉ chờ có vậy, và cũng đã thành lệ, ông đứng lên,  một tay vịn vào vách đá, mắt chớp chớp và cất giọng. Phải công nhận ông  ngâm thơ rất hay. Những bài như “Núi Đôi” của Vũ Cao, “Quê hương” của  Giang Nam, ông đã khiến cả đại đội chìm trong cảm xúc nhất là lúc giọng  ông nghẹn lại khi diễn đạt cái chết của các cô gái. 

Chính nhờ cái tài lẻ như vậy mà đại đội trưởng đã bỏ qua cho ông những  lần ông trốn tránh nhiệm vụ. Vào trận, ai mà không sợ chết. Nhưng người  khác vì lòng tự trọng mà phó thác cho số phận. Còn ông Tuân thì luôn tìm  cách chạy trốn nó. Khi thì ông kêu đau dạ dày, khi thì bị quáng gà không nhìn  rõ đường… Trong tiểu đội của ông, có người bảo: “Thôi, cho nó giữ lấy cái  gáo, để còn có thơ mà nghe”… 

Thực ra, việc ông Tuân luôn tìm cách thoái thác nhiệm vụ, ngoài tính  nhát gan, tiểu tư sản còn một nguyên do khác. Dòng họ nhà ông phiêu dạt  đến Làng Hạ đã nhiều đời, nhưng không hiểu sao, đời nào cũng độc đinh.  Nghĩa là chỉ sinh được một con trai. Con gái không kể. Ngày ông có giấy  triệu tập nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên, bố ông đã cay đắng nói rằng,  Dòng họ này, gia tộc này đã đến lúc tuyệt diệt. Điều kỳ lạ nữa là ông lấy vợ từ  rất sớm nhưng ba, bốn năm sau đó vẫn không có con. Người mà ông Tuân kỳ  thị nhất trong đại đội là anh tôi. Phần vì anh tôi được mọi người quý mến.  Ngay cả O Hương, y tá mới được bổ sung về lúc nào cũng anh Kháng, anh  Kháng. Phần khác có lẽ vì anh tôi mới ngoài 30 tuổi mà đã có đến 4 con, 3  trai một gái, điều mà cả nhà ông mong mỏi đến khổ sở mà vẫn không thể có  được một.

Thời điểm này, trong cánh rừng đơn vị anh tôi đóng quân dày dặc loang  lổ những tờ truyền đơn chiêu hồi được thả từ những chiếc OV.10 của Mỹ.  Những tờ truyền đơn in trên giấy tốt, dày, màu mè, nội dung đại loại: “Quân  đội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam cộng hòa đang chiến  thắng ở mọi chiến trường. Các bạn cán binh cộng sản hãy dũng cảm lựa  chọn, giữa đói khát, bệnh tật và một tương lai tươi sáng ở các đô thị”… Cũng  có đôi lần, những chiếc tàu rọ rà xuống sát đỉnh rừng, từ cái khoảng rỗng của  thân máy bay phát ra những tiếng nói khê đặc: “Tôi là Nguyễn… Tôi đã trở  về với chánh nghĩa quốc gia. Tôi được đối xử tử tế, có công ăn việc làm, được  sống với những gì mình yêu thích ở thành phố”… 

Một bữa ông Tuân ốm. Anh tôi đi giặt quần áo cho ông, thấy trong  túi quần sau của ông những tờ truyền đơn được gấp rất cẩn thận. Dĩ nhiên  anh tôi đã xé chúng ném xuống dòng suối. Trở về hang, anh thấy ông Tuân  ngồi nhổm dậy trên võng, mắt dáo dác nhìn ra ngoài, khuôn mặt vêu vao,  xanh bủng. 

– Kháng này, cậu có nghĩ mình, phe mình thắng được cuộc chiến này  không? 

Anh tôi thở dài: 

– Có khi phải đến đời con, đời cháu mình. Cậu hỏi vậy là có ý gì? Ông Tuân: 

– Cuộc chiến này thực chất là cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Mình đánh  Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc. Còn bọn ngụy đánh mình cho Mỹ và phe tư  bản. Mỹ họ giầu và mạnh lắm, không thắng nổi họ đâu! 

– Cậu nghe đài BBC đấy à? 

– Thì trong những tờ truyền đơn nó nói như thế. 

Một lát sau: 

– Kháng này, dù cậu được kết nạp vào Đảng nhưng bố cậu đi lính  cho Pháp những mười năm, các con cậu cũng không thể mọc mũi, sủi  tăm lên được. 

Anh tôi lại thở dài, không đáp.

– Kháng này, hay mình và cậu trốn đi. Ở đâu chả là sống. Dân tộc là loài  người, Tổ quốc là thế giới. Cái nhục ở chỗ này sẽ là cái vinh ở chỗ khác. 

Anh tôi đứng bật dậy: 

– Cậu không được nghĩ bậy, làm bậy. Tôi đã thấy những tờ truyền đơn  trong túi quần cậu. Anh tôi gầm lên trong cổ họng. Liệu mà giữ mồm, giữ  miệng. Coi như tôi chưa nghe thấy cậu nói gì, biết chưa? 

Những năm 68, 69 ở chiến trường Khu 5 đói quay, đói quắt. Đói cả  lương thực lẫn đạn dược. Trong lúc chờ sự chi viện từ hậu phương qua con  đường 559, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định tổ chức hậu cần tại chỗ. Tất cả  các đơn vị đều phải thành lập bộ phận sản xuất gọi tắt là K2. Phải tự cung  cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đơn vị mình. Bởi thế, những chuyến đi lấy  gạo, thay vì xuống đồng bằng hoặc lên đường giao liên Trường Sơn. Thời gian  đi về mất già nửa tháng, giờ chỉ cần lên đội sản xuất, đi về trong ngày, cùng  lắm là một ngày rưỡi. Là quản lý đại đội, anh tôi luôn phải dè sẻn, ưu tiên gạo  cho các trung đội tác chiến. Bộ phận hậu cần ở nhà chủ yếu ăn ngô, sắn. Điều  kỳ lạ là ông Tuân chịu đói rất giỏi. Thêm nữa ông ăn ngô sắn như ăn cơm vậy.  Ông Cáp có lần bảo: Thằng Xuân nó sinh ra ở vùng bãi nên chịu được ngô  sắn. Vào bữa, ông Tuân hay nhường nhìn, chịu thiệt. Có lẽ đó là đức tính mà  ông Tuân luôn lấy được điểm từ anh tôi. Ông lười nhác nhưng đôi lúc lại rất  tinh tế và ý tứ. Đêm ngủ, ông hay nói chuyện chồng vợ khiến mấy anh lính  trẻ rạo rực, luôn lục sục trên võng. 

Một ngày đầu tháng mười, đơn vị tổ chức lên đội sản xuất gùi gạo. Tổ  của anh tôi phụ trách có ba người. Anh tôi, ông Tuân và O Hương, O được  điều về đại đội anh tôi từ năm ngoái bởi nhiều anh em trong đơn vị mắc một  căn bệnh rất lạ. Người nổi ngứa, mẩn đỏ rồi mọng nước, không phải ghẻ. O  Hương bảo đó là kết quả không tránh khỏi của việc sống nhiều ngày nhiều  tháng ở vùng rừng bị nhiễm độc nặng. 

O là người gốc Huế, thấp đậm, đầy đặn. Trên khuôn mặt tròn của O lồ  lộ một vẻ đẹp vừa đôn hậu, vừa phồn thực. Trước O hoạt động ở nội thành 

Đà Nẵng, sau Tết Mậu Thân bị lộ phải bật lên rừng, được đi học một lớp y tá  ngắn ngày rồi được bổ sung về tiểu đoàn của anh tôi. 

Nhắc đến O, lính tiểu đoàn thường kháo nhau: Cô nàng, rũ ra phải  được một gùi. Ý nói O dễ dãi, đã từng quan hệ với nhiều đàn ông. Nghe nói  thế, đồn thổi thế, nhưng đã mấy tháng trời, vẫn chưa có anh nào cưa đổ được  O. Người mà O quý nhất trong đại đội là anh tôi. O cũng chẳng cần dấu diếm  điều đó, ngay cả với chính trị viên đại đội. 

Hôm ấy, đoàn người đi lấy gạo đến đội sản xuất sớm. Lần đầu tiên anh  tôi thấy ông Tuân vui vẻ, sởi lởi. Ông nhận gùi 100 lon bắp, gấp rưỡi những  lần đi lấy gạo trước đó. “Thằng cha này mê O Hương rồi”, Anh tôi cười, nói  nhỏ với ông Cáp. 

Đường về, trời bỗng tối sầm lại. Anh tôi nhắc mọi người ráng đi nhanh,  phải vượt con suối Đaksao trước khi lũ ập xuống. Ở rừng Khu 5, những con  lũ thường ập xuống bất chợt, như một sự đổ vỡ lớn. Chỉ một thoáng, dòng  suối nhỏ đang chảy êm đềm, bỗng chốc sủi bọt, nước từ thượng nguồn đổ  xuống ầm ầm. Nhiều người lội ra giữa dòng suối, gặp lũ không kịp quay trở  lại đã bị lũ cuốn trôi mất tăm mất tích. Nhắc mọi người như vậy nhưng đoàn  gùi vẫn bị cắt làm đôi. Một nửa sang được bờ bên kia, nửa còn lại gồm anh  tôi, ông Tuân và O Hương bị lũ bỏ lại bờ bên này không qua suối kịp. 

Cách đây chưa lâu, vào đầu mùa lũ. Đơn vị anh tôi cũng tổ chức đi lấy  hàng ở vùng sâu. Đường về phải vượt qua một con suối rộng. Lúc O Hương  đang gùi gạo đứng giữa dòng nước thì con lũ bất chợt đổ xuống. O Hương  luống cuống không biết nên đi nhanh sang bờ bên kia hay quay lại thì con  nước đã hung hãn chồm tới, đẩy O ngã sấp. “Tháo bỏ gùi ra, nhanh lên!”  Anh tôi vừa chạy đuổi theo trên bờ vừa quát xuống. Nhưng O Hương không  còn nghe được tiếng anh tôi nữa. Tóc trên đầu O rũ ra mất hút trên mặt  nước. Anh tôi quẳng bỏ gùi hàng nhào xuống con suối đón đầu. Lúc túm  được O Hương thì O đã sặc nước lả đi. Anh tôi, theo kinh nghiệm học được,  vội túm lấy tóc O kéo ngược lên, vừa kéo vừa sải cánh tay còn lại về phía bờ  suối. Cũng thật may, hai người va phải một thân cây gỗ lớn nằm đổ ngang  mặt nước. Anh tôi bám lấy cây gỗ, kéo O Hương vào theo. Vừa lúc, những 

người lính khác trong đoàn cũng kịp chạy tới kéo cả hai lên bờ. Anh tôi nằm  vật ra, mồm mũi sặc sụa nước. 

Chính nhờ lần thoát chết trong gang tấc ấy, chuyến đi này, anh tôi và  O Hương đã quyết định dừng lại không mạo hiểm như chuyến đi lần trước. 

Mưa. Trời bắt đầu đổ mưa sầm sập. Nhìn dòng suối đang phình ra, đổ  cuồn cuộn, cuốn trôi cả những cây gỗ lớn. Anh tôi quyết định tìm một căn  lều trông rẫy của đồng bào dân tộc trụ lại, chờ nước rút. 

Trở lại con đường mòn vừa đi, rẽ phải, ba người gặp một căn chòi thấp  nằm giữa một rẫy mì cằn cỗi. Nước từ trên đỉnh đồi chảy xuống xối xả ngập  đầy trong chiếc rãnh được đào xung quanh chòi. Cả ba lần lượt chui vào căn  chòi, lựa tìm chỗ còn khô để hạ gùi. Lát sau, anh tôi bảo ông Tuân: “Mình  tạm thời ra ngoài để O Hương thay đồ. Ướt, con gái dễ bị viêm nhiễm lắm.”.  Ông Tuân nhìn anh tôi, nửa ra ý hiểu, lại như không hiểu. Hai người đàn  ông lại khoác áo mưa, đứng quay lưng vào cửa chòi. Đột nhiên ông Tuân  quay lại, loay hoay mở gùi lấy ra một xấp vải xô không biết kiếm ở đâu đưa  cho O Hương: “O cầm lấy. Lại quên không mang theo rồi phải không?”. O  Hương tròn mắt: “Làm sao anh biết… Anh có… Em cũng chỉ tưởng sáng đi  tối về ’’. Anh tôi cũng ngạc nhiên không kém. Lạ quá. Làm sao ông ta lại biết  O Hương đến tháng để mang theo cái loại khăn mà ở rừng, nó còn quý hơn  cả vàng đối với các cô gái. 

Sau lưng hai người, trong căn chòi có tiếng sột soạt của quần áo được  cởi. Tiếng nước chảy. Những tế bào nhạy cảm được đánh thức làm hai cơ thể  đàn ông đều nóng lên, rạo rực. 

Lúc quay trở vào, ông Tuân hì hục nhóm một đống lửa. Thỉnh thoảng  lại găm cái nhìn vào hai ống quần bó sát đang khô dần của O Hương. Bên  ngoài căn chòi, đêm đột ngột ập xuống, đặc quánh. Anh tôi nghĩ chẳng lẽ  đấy lại là cách để ông ta tán tỉnh các cô gái, một cử chỉ kì quoặc, bệnh hoạn.  Anh tôi lắc đầu, đứng dậy bước ra cửa. Vẫn nghe tiếng gầm réo của con lũ.  Mưa ngớt dần. Ông Tuân cũng đứng dậy bước ra theo. Hai cái bóng im lìm  đứng cạnh nhau như hai cây gỗ cháy.

– Cậu đừng làm khổ O Hương. O là em út của cả đại đội. Anh tôi nói. 

– Ông đang ghen có phải không? Ông Tuân không đáp mà nửa đùa, nửa  thật hỏi lại. 

Anh tôi nhìn ông Tuân. Đã không còn thấy cặp mắt hơi lé, mái tóc luôn  được vuốt gọn. Anh tôi nghĩ có trời mà biết được những gì đang diễn ra  trong cái đầu tăm tối ấy. 

Sau chuyến đi gùi gạo, nhờ có xấp vải xô đưa đúng lúc, quan hệ giữa ông  Tuân và O Hương trở nên gần gũi và thân thiết hơn. O Hương trả bù ông  Tuân chiếc khăn chưa dùng đến của O nhưng ông Tuân không nhận. Những  lúc rảnh rỗi, ông hay hỏi O về cuộc sống ở các đô thị, nơi trước khi thoát ly,  O đã từng sống nhiều năm tháng. Nghĩ ông Tuân hỏi thực lòng, O Hương  say sưa kể về những ngày hoạt động ở nội thành. O nhớ những con phố nở  đầy hoa phượng vĩ. Mỗi buổi tan trường, áo trắng của nữ sinh trường Trung  học Phan Chu Trinh làm sáng bừng lên, đọng lại ở các ngã ba, ngã tư. Những  chiếc Honda chạy lãng xẹt. Ít nhất đã có một lần O giấu truyền đơn trong  cốp xe, bị đám quân cảnh ách lại. O đã phải giả lả nhờ anh Hai cài dùm nút  áo dài dưới nách mới thoát khỏi tình huống ngặt nghèo đó. 

– Honda là cái chi? Ông Tuân ngượng ngập hỏi. 

– Là xe gắn máy đó. Ở Đà Nẵng nhà nào cũng có xe gắn máy. 

Ông Tuân im lặng, xấu hổ vì một giáo viên cấp 3 như ông, đến cái xe gắn  máy cũng không biết nói chi đến tủ lạnh, cát sét, “cuộc sống của họ khác xa  với cuộc sống ngoài Bắc”. Ông Tuân nghĩ. 

Mặc dù đã hay trò chuyện với ông Tuân hơn, nhưng không hiểu sao, O  Hương vẫn không mấy mặn mà với những bài thơ ông chép vào sổ tay của O.  “Người chi mà hay nhìn lén, nhìn xéo.” O nói với anh tôi. Anh tôi vội vàng  giải thích rằng, ông Tuân hơi bị lé, bởi thế, muốn nhìn thẳng ông ta phải  nhìn chếch sang bên cạnh. Lời giải thích đó của anh tôi vẫn không làm O  Hương thay đổi. Thực lòng, trong thâm tâm, anh tôi cũng gờn gợn một cái  gì đó về cái nhìn xéo, lén của ông Tuân. Khác với anh tôi là một người thất 

học, có bố từng đi lính cho quân đội Pháp, gia đình ông Tuân thuộc thành  phần cơ bản. Trong cải cách được chia ruộng, chia nhà. Lớn lên ông được đi  học hết trường này đến trường khác. Với chế độ này, ông thuộc diện ăn sẵn,  không phải nhọc nhằn làm lại như anh tôi. Vậy tại sao ông ta lại có ý định  bỏ trốn. Điều này đã khiến anh tôi day dứt, không giải thích nổi. Anh tôi, từ  chỗ nhập ngũ chỉ để thay đổi lý lịch cho con cái, để rửa cái nhục bị nghi ngờ  của chính quyền, nhưng sau ba năm ngắn ngủi ở chiến trường anh đã ngộ ra  nhiều điều, trở thành một con người khác: chịu thương chịu khó, nhẫn nhịn  và nhường nhịn. Trong con người anh có một dòng máu tự ngàn xưa đang  chảy. Anh tự nguyện xin vào Đảng vì tất cả các đảng viên trong đơn vị anh  đều là những con người không sợ khó, sợ khổ, không sợ chết. 

…….

Leave a Reply

Your email address will not be published.