Có Hay Không, Việc Hai Vua Trần Đóng Đại Bản  Doanh Ở Thiên Long Uyển, Xã Yên Đức, Đông Triều, Để Chỉ Huy Trận  Đánh Bạch Đằng Năm 1288?

Có Hay Không, Việc Hai Vua Trần Đóng Đại Bản  Doanh Ở Thiên Long Uyển, Xã Yên Đức, Đông Triều, Để Chỉ Huy Trận  Đánh Bạch Đằng Năm 1288?

TRẦN NHUẬN MINH 

Tháng 12 năm 2021 tại TP Uông Bí tỉnh Quảng Ninh,  đã diễn ra một hội thảo khoa  học cấp quốc gia: “Vị trí vai  trò của Thiên Long uyển trong chiến  thắng Bạch Đằng năm 1288”, nhằm  xây dựng hồ sơ đề nghị cấp thẩm  quyền công nhận Thiên Long uyển là Di tích Quốc gia đặc biệt. 22 tham  luận được xuất bản thành tập Kỷ yếu  284 trang. Trong đó, điều tôi quan  tâm nhất là vấn đề “Hai vua Trần đã  đóng đại bản doanh ở Thiên Long  uyển xã Yên Đức huyện Đông Triều  tỉnh Quảng Ninh để trực tiếp chỉ  huy tác chiến trận đánh Bạch Đằng  năm 1288”. Vì đây là một vấn đề hoàn  toàn mới, được coi là thành công quan  trọng nhất của hội thảo này, như một số báo đã loan tin, và nếu điều đó là  có thật, thì tôi rất mừng, dù lịch sử  thời Trần và diễn biến của trận đánh vĩ đại này, lịch sử và sách giáo khoa  hiện hành sẽ phải viết lại. 

Đầu tiên chúng ta cần biết Thiên  Long uyển cụ thể như thế nào? Tôi  đã thường xuyên qua lại nơi này 4 năm, vì tôi dạy môn sử học trường  phổ thông ở gần Thiên Long uyển,  và 3 năm tiếp theo, sống trực tiếp ở  sát Thiên Long uyển cả ngày lẫn đêm,  vì tôi được chuyển về dạy sử học ở  luôn nơi này. Tôi đã rất nhiều lần  vào sâu trong di tích. Thời ấy, từ làng  Chí Linh, xã Yên Đức, nơi tôi dạy  môn sử học, sang làng Đức Sơn, nơi  có Thiên Long uyển, cách nhau một  cái lạch nước rộng khoảng 60 đến  70 mét, phải đi bằng thuyền nan nhẹ  hay bè chuối. Khi nước triều rút thì lội sang được, nước chỉ cao từ đầu gối  đến ngang ngực là cùng. Các cụ cao  niên đã từng học chữ thánh hiền, lần  lượt đưa tôi đi từng góc rừng, dưới  những cây cao trên dưới 100 tuổi, các  cửa hang ẩm ướt đầy lá mục, không  sót một chỗ nào, rất nhiều lần trong  7 năm. Không có một cụ nào nói  với tôi là hai vua Trần đã “đóng đại  bản doanh ở đây để chỉ huy tác chiến đánh trận Bạch Đằng”. TUYỆT ĐỐI  KHÔNG. Các cụ chỉ nói, ở thời  Trần, đây là đất của ông Tể tướng  Trần Khắc Chung giao cho em nuôi  làm chùa để thờ cúng. Điều cần chú  ý là ông Chung nhận đất này rất lâu  sau trận Bạch Đằng 1288/3/8 (bia đá  khắc việc này vào ngày 1348/3/4, tức  là tròn 60 năm sau – Kỷ yếu, trang 25),  vì sau khi thắng giặc nhiều năm, vua  Trần mới trả đất này cho Bảo Hoàn,  con một vị tôn thất hàng giặc mà bị  tịch thu, Bảo Hoàn là vợ ông Trần  Khắc Chung. Nếu hai vua Trần đã  đóng đại bản doanh ở đây để trực tiếp  chỉ huy trận Bạch Đằng vang dội vào  bậc nhất trong lịch sử dân tộc, nếu  có điều ấy, bia đá trên phải ghi chứ? Sao lại không? Nhất là ông Chung đã  từng có công lớn trong cuộc kháng  chiến đó, từng đến trại giặc “luận  chiến” với chúng, khiến chúng phải  nể phục. 

Đến đây có một điều đặt ra, cũng  cần phải xác minh ba chữ Thiên Long  uyển khắc vào đá núi, cách mặt đất 2,6 mét, chỉ cách khoảng 100 mét,  nơi khắc 3 chữ Tam Bào địa ở sát  mặt đất, chân núi, cả hai có thể được  khắc cùng một thời gian vào tháng  3/1348? Nghĩa là cùng tròn 60 năm  sau chiến thắng Bạch Đằng 1288, do  đó càng khó có khả năng Thiên Long  uyển là Ngự uyển của vua Trần năm  1288 được? Các cụ cho tôi biết ở thời  Nguyễn đánh Pháp, ông Đốc Tít đã  đóng quân ở đây, trong hang còn tìm  thấy một cái mâm đồng của nghĩa  quân. Tôi nghe thế chứ chưa trông  thấy cái mâm đồng ấy và lúc ấy, cũng  không biết cái mâm đồng ấy có còn ở  trong hang hay đã ở đâu. Ngoài điều  đó, suốt 7 năm ở đây, từ 1962 đến  1969, tôi tuyệt đối không thấy có một  ai nói một điều gì hơn. Các cụ đưa tôi đến nơi có 3 chữ “Thiên Long uyển”  với chữ thiên một nghìn, không  phải thiên là trời để ngụ ý nói nhà  vua, vì thế, không một cụ nào nói đây là vườn thượng uyển của vua Trần. 

TS Nguyễn Văn Anh, trưởng khoa  Lịch sử, trường Đại học KHXH và  Nhân văn Hà Nội, nhân vật mà tôi  nghĩ là chủ chốt nhất của công trình  khoa học này, nói, khi trả lời phỏng  vấn của báo Quảng Ninh: “Vườn  nghìn rồng cũng giống như vườn  thượng uyển của vua vậy”. Khác hẳn  nhau lắm lắm chứ, sao lại “giống  như” được, ông TS ơi! Vì ông TS  coi hai loại vườn đẳng cấp hoàn toàn  khác xa nhau này là một, là vườn của vua, chính ông nói, ông coi đây  là “điểm xuất phát” của ông, mà tôi  coi là của tư duy khoa học của ông.  (TS Nguyễn Văn Anh, “Thiên Long  Uyển, xứng đáng là Di tích Quốc gia  đặc biệt”, báo Quảng Ninh cuối tuần,  số 1029 (1077) Phan Hằng thực hiện  (phỏng vấn), ngày 2/1/2022, tr.5),  nên ông kéo vua về đây đóng quân  cho hợp lý chăng? 

Điều gọi là “truyền thuyết dân  gian địa phương” mà vài trang kỷ yếu  đưa ra (mới “từ năm 2008” – như ông  TS Anh viết trong kỷ yếuở bài báo  trên, dù không nêu văn bản nào in)  về vua Trần đóng quân ở đây, tức là  từ đó, các nhà doanh nghiệp mới có  ý định nghiêm chỉnh là biến nơi này  -Thiên Long uyển với núi Mèo, ở gần  nhau, cùng một xã – thành một Trung  tâm du lịch văn hóa, lịch sử và tâm  linh cấp quốc gia về các vua Trần, kết  nối với các Di tích nhà Trần đã xây  dựng hoàn chỉnh và rất khang trang ở  Đông Triều. Còn từ trước, có lẽ đến  khoảng 50-60 năm, chỉ nói vua Trần  Nhân Tông đi thuyền qua đây, thấy  núi Mèo đẹp thì lên thăm, đề thơ và  cho khắc vào vách đá mà thôi. Tôi đã  có mặt trước bài thơ này từ cuối năm  1962, khi tôi tròn 18 tuổi. Chính tôi  đã vài lần viết bài, rất hoan nghênh  các nhà doanh nghiệp, và rất ủng hộ  dự án này, nhưng nói là nơi vua Trần  đóng quân, vua Trần làm thơ khắc lên  đá… ở đây, thì tôi can, vì không có căn  cứ. Theo sự khảo sát thực địa của tôi,  từ những năm còn dạy môn sử học  ở trường phổ thông, thì bài thơ này  viết và khắc vào vách đá núi Mèo, ước  đoán là khoảng từ năm 1915 đến năm  1935, tác giả, là một vị quan huyện,  quan phủ nào đó, ở trong vùng Hải  Dương – Hưng Yên đã qua đây. 

Đây là bài thơ đặc Nguyễn, gán  cho vua Trần Nhân Tông. Nhà Hán  Nôm học Hoàng Giáp, lại cho là thơ  thời Trần. Ông nhiều lần viết bài,  làm sách, khẳng định rằng “nhiều  học giả cho đây là thơ ngự đề của vua  Trần Nhân Tông” (?). Vậy mà hàng  chục học giả dự Hội thảo khoa học  quốc gia vừa mới qua đây thôi, mắt  săm soi từng chữ ở núi Thiên Liêu  và núi Mèo, nhưng không có một  ai, nói một câu, viết một chữ, công  nhận bài thơ “ngự đề”, năm 1292,  khắc vào vách đá núi Mèo là thơ  của vua Trần Nhân Tông viết lúc  sinh thời, như ông Hoàng Giáp đã  nhiều lần khẳng định, dù đầu bài thơ  có chữ “TRẦN TRIỀU NHÂN TÔN  HOÀNG ĐẾ NGỰ ĐỀ”, thời gian sáng  tác được ghi trên bia là 1292 và mục  đích của hội thảo là tìm kiếm các dấu  vết liên quan đến hai vua Trần (Trần  Thánh Tông và Trần Nhân Tông) tại  nơi này, để xác nhận giá trị của di tích.  Theo tôi, đây cũng là một thành công  quan trọng của cuộc hội thảo khoa học quốc gia này, tôi tin là các học giả  nhận ra, nhưng không tiện công bố,  và chẳng cần công bố, khách quan, nó  vẫn có giá trị bác bỏ một hư truyền.  Bài thơ có 2 cặp đối chặt chẽ, cấu  trúc thực luận phân minh, nhịp thơ  4/3 và ngôn ngữ trau chuốt hiện đại,  chắc chắn được viết sau năm 1841, vì  kiêng húy vua Thiệu Trị nhà Nguyễn  là Nguyễn Phúc Miên Tông mà chữ  Tông phải viết thành Tôn (*).  

TS Nguyễn Văn Anh, ngay mở  đầu ởtrang 3 kỷ yếu, đã khẳng định  rõ rệt: “Kết quả đề tài đã làm rõ  phạm vi của chiến trường, đồng thời  chỉ rõ Thiên Long uyển là đại bản  doanh của hai vua Trần trong trận  Bạch Đằng năm 1288” (TNM nhấn  mạnh). Vậy mà đọc hết toàn bài của  ông và cả tập kỷ yếu 284 trang, không  thấy có một chứng cứ nào có thể  tin cậy được, để chỉ rõ điều đó. Tôi  nghĩ, ông nên “nói có sách, mách có  chứng”, và, chỉ rõ các căn cứ ra, trong  sách nào, cho mọi người thấy những  căn cứ nào có thể tin được, chứng tỏ  hai vua Trần đã đóng đại bản doanh ở đây, nơi có cái vườn mà ông cho là  vườn thượng uyển của nhà vua, mà  trong toàn tập kỷ yếu này, tôi không  thấy có. Cùng với ông, còn có hai  ba nhà khác, cũng như ông, chỉ nói  khơi khơi (để “chiều lòng người mến  mộ”) vậy thôi, mà không qua bất cứ  một căn cứ nào rõ ràng trong sách  cổ (dù là sách ở trong nước hay ở nước ngoài – các tập Nguyên sử của  Trung Quốc chẳng hạn… ), hoặc một  bằng chứng nào rõ ràng qua các cuộc  khai quật khảo cổ học mà các ông đã  làm trong nhiều năm. Đóng đại bản  doanh để chỉ huy một trận đánh rất  lớn, ắt phải có hàng ngàn quân thủy  bộ và ở đây không chỉ một sớm một  chiều. Vậy mà qua 5 bài viết, dài đến  26 trang in (Kỷ yếu, từ trang 258 đến  284) về “kết quả nghiên cứu điều tra  và khai quật” ở đây, của 5 nhóm tác  giả, với diện tích đào bới khá rộng,  trong nhiều năm, mà TS Anh tham  gia 2 nhóm, không thấy công bố có  một di vật nào tìm kiếm được của  quân đội nhà Trần, có thể làm bằng  chứng, chứ chưa nói đến vũ khí của  quân lính hay đồ dùng của các vua  Trần. Đặc biệt trong 5 bài đó, có bài  Kết quả khai quật di tích Thiên Long  uyển… của nhóm tác giả, gồm 6 người  trong đó có TS Anh, ở trang 268, có  đoạn: “… nhưng các bằng chứng này,  KHÔNG ĐỦ CƠ SỞ để kết nối các di  tích thời Trần tìm thấy ở đây, với các  hoạt động của vua Trần trên vùng đất  này”. Tôi nghĩ, đó là câu trung thực  nhất về mặt khoa học lịch sử có trong  kỷ yếu này. Dù nó trái với ý muốn.  Có lẽ vì thế, sau khi đã chỉ rõ (nghĩa  là có hẳn hoi rồi) ở trang 3, thì ngay  ở trang 4, TS Anh lại viết: “Thiên  Long uyển CÓ THỂlà nơi đóng đại  bản doanh của hai vua Trần” (?). Đã  khẳng định là chỉ rõ rồi, sao sau đó lại có thể, nghĩa là chưa rõ? GSTS, NG  nD NguyễnQuang Ngọc (Đại học  Quốc gia Hà Nội) trang 37 kỷ yếu,  viết: “Có lẽ hai vua Trần Thánh Tông  và Trần Nhân Tông đã thêm một lần  chuyển sở chỉ huy hay đại bản doanh  về khu vực núi Thiên Liêu, thuộc  thôn Đức Sơn, xã Yên Đức, huyện  Đông Triều để trực tiếp chỉ huy các  lực lượng tác chiến…” Thêm một lần, là nói đại bản doanh hai vua Trần Đà đóng ở núi Dương Nham, lại phải  chuyển về Thiên Liêu. Chưa bàn việc  hai vua Trần Đà đóng đại bản doanh  ở núi Dương Nham, vậy thì vì sao lại  phải chuyển cấp tốc đại bản doanh từ  đó về Thiên Liêu, mà ta biết điều đó  trong chiến tranh tổng lực ác liệt, mật  thám giặc như rươi, là điều không thể  manh động, tùy tiện. Tôi muốn ông  GS chỉ rõ, vì sao lại phải làm thế, khi  mà 2 địa điểm theo kỷ yếu là cùng ở  một huyện, là huyện Giáp Sơn, châu  Đông Triều, cách nhau chỉ khoảng  10 km, cùng sát bên một dòng sông.  Trong khi cuộc chiến tranh tổng lực  lần thứ ba này, chỉ diễn ra vẻn vẹn  trong khoảng 3 tháng? Chứng cứ nào  cho biết có sự chuyển đổi vội vàng,  chứng tỏ sự lúng túng và bất ổn về  mặt chiến lược của hai vua Trần và  Hưng Đạo vương, Quốc công Tiết  chế. Chưa kể điều đó rất khó giữ  được bí mật khi chiến tranh đã xảy ra.  Luận điểm này của GS Ngọc rất khó  tin. Tôi đã một lần trực tiếp nghe GS phát biểu trong hội thảo khoa học về  Hoàng Cần tại Tiên Yên, là hai vua  Trần từ Thăng Long bí mật về Ba Chẽ  để gặp Hoàng Cần (là nhân vật truyền  thuyết, không có thật (?) – TNM), chỉ  đạo Hoàng Cần đánh giặc Nguyên  (trong khi giặc Nguyên và các giặc  phương Bắc, từ thượng cổ đến nay,  chưa bao giờ đánh vào Việt Nam,  qua đường bộ Ba Chẽ, hay đánh vào  kinh đô Thăng Long, qua bất cứ nơi  nào thuộc biên giới trên bộ ở Quảng  Ninh hiện nay). Về việc này, Đại Việt  sử ký toàn thư (ĐVSKTT), tập II,  Nxb Khoa học xã hội, 1971, trang 58- 59, ghi nguyên văn rõ ràng như sau  (bản dịch): “Thế quân giặc bức bách,  hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ, đến  nguồn Tam Trĩ, sai người chở thuyền  ngự ra Ngọc Sơn (tức là Móng Cái – TNM chua thêm) để đánh lừa quân  giặc. Lúc ấy xa giá nhà vua xiêu dạt, mà  Quốc Tuấn vốn tự phụ kỳ tài…” Việc  ghi vào quốc sử ấy, xảy ra vào tháng 2  năm Ất Dậu, 1285. Như vậy, do bị giặc  truy sát, có Quốc Tuấn tháp tùng, hai  vua phải lừa giặc, bí mật chạy ra đây,  rồi bí mật lên bộ đi tắt về phía sau…  Tôi đã căn cứ vào đó, viết bài, bác bỏ  luận điểm này của GS và cho rằng, đây  là nhà khoa học rất coi trọng Quảng  Ninh tưởng tượng và “sáng tác” ra, để  “tri ân” Quảng Ninh đã yêu mến ông  mà thôi. 

Vậy ta xem ĐVSKTT, bộ quốc sử  cổ nhất (1497) và đáng tin cậy nhất của nước ta về trận Bạch Đằng ấy, đã  viết về điều ta suy đoán ấy như thế  nào. Sau đây là nguyên văn: “Mậu  Tý, tháng 4 (1288), mùa xuân tháng  Giêng, Ô Mã Nhi đánh vào phủ  Long Hưng” [Thái Bình – đất phát  tích và đặt lăng miếu của nhà Trần – rõ ràng là hai vua và Hưng Đạo vương  phải đánh giặc tại đây – TNM ghi  thêm]. “Ngày 8, quan quân họp đánh  ở ngoài biển Đại Bàng, bắt được 300  chiếc thuyền đi tuần của giặc và chém  được 10 thủ cấp. Quân Nguyên bị  chết đuối rất nhiều”. Tại trang 294  sách này, chú thích: “Đại Bàng thuộc  huyện Nghi Dương”, Kiến An. Tiếp  liền sau đó: “Tháng 2, ngày 19, Ô Mã  Nhi đánh vào trại Yên Hưng. Tháng 3  ngày 8, quân Nguyên hội ở sông Bạch  Đằng để đón thuyền của bọn Trương  Văn Hổ nhưng không gặp. Hưng  Đạo vương đem quân đánh, giặc bị  thua.” (ĐVSKTT, tập II, Nxb Khoa  học xã hội, 1971, trang 67). Như vậy,  rõ ràng là hai vua Trần do Hưng Đạo  vương tháp tùng, vào trận Bạch Đằng  là cất quân về từ cửa Đại Bàng, nay là  Kiến An, về Thủy Đường, nay là Thủy  Nguyên, và đánh xuống Bạch Đằng  là từ bên kia sông, thuộc Hải Phòng  hiện nay. Đến đây lại thấy một “sáng  tác mới” của ông TS sử học Nguyễn  Văn Anh, là tách hai cánh quân xa hẳn  nhau, cách nhau đến trên dưới 100  km, lại có 3 hay 4 con sông chia cắt, để  dẫn đến kết luận là Hưng Đạo vương  vào trận Bạch Đằng là từ Kiến An  (bên kia sông), còn hai vua Trần vào  trận Bạch Đằng là từ “đại bản doanh  Thiên Long uyển”, ở bờ sông bên này,  và đánh xuống từ đây, chân núi Thiên  Liêu – bên này sông. Sự kiện đó chưa  từng ghi trong lịch sử, bởi Hưng Đạo  vương luôn tháp tùng hai vua Trần,  không để hai vua chạy giặc một mình,  đánh giặc một mình, sự an nguy của  xã tắc không thể lường được, nên sử  chỉ ghi có một cánh quân từ sau phía  Kiến An về mà thôi. Điều này hoàn  toàn phù hợp với các di tích còn lưu  lại của trận Bạch Đằng, với núi Voi,  và các địa danh Lưu Kỳ, Lưu Kiếm… ,  nơi hai vua Trần và Hưng Đạo vương  đã đi qua. Sau này, bộ Khâm định Việt  sử thông giám cương mục của Quốc  sử quán triều Nguyễn, và vài chục  năm gần đây, tập sách khoa học đáng  tin cậy nhất Cuộc kháng chiến chống  Nguyên Mông… của Hà Văn Tấn và  Phạm Thị Tâm… đến tập Nguyên sửTân Nguyên sử của Trung Quốc, An  Nam chí lược của Lê Tắc, sử gia giặc  trong quân đội nhà Nguyên, ghi ngay  tại chiến trận (1288), từ việc Trấn  Nam vương Thoát Hoan lập 2 kho  lương ở Vạn Kiếp, đến việc Hữu thừa  tướng Trình Bằng (Phi) cùng các đại  tướng khác của nhà Nguyên về đóng  quân tại Đông Triều, để hộ tống đoàn  thuyền của Ô Mã Nhi… bị Trần Tung đánh DU KÍCH, thường cho quân  lẻn vào trại giặc quấy nhiễu hay đánh  lẻ tẻ, quân Nguyên mệt mỏi, tự rút lui  từ chợ Đông Hồ (Đông Triều) theo  đường tắt về Bắc Giang, ngày 3/3  năm Mậu Tý, trước trận Bạch Đằng  chỉ có 4-5 ngày… (tôi đã khảo sát rất  kỹ chiến trận này từ năm 1968 đến  1988, đã viết bài đăng báo lần đầu từ  1968 và công bố địa điểm “chợ Đông  Hồ” hiện nay là chỗ nào trong tập  sách khảo cứu Thời gian lên tiếng, năm  2013. Sau này một vài nhà nghiên  cứu dường như lấy lại ý kiến của tôi  nhưng không nêu xuất xứ) mà GS Tấn  đã khai thác rất triệt để… tuyệt không  có một chữ nào liên quan đến việc các  nhà khoa học họp ở Uông Bí, muốn  khẳng định đại bản doanh của hai  vua Trần đã đóng ở núi Thiên Liêu,  cách chợ Đông Hồ khoảng 10 km, để  trực tiếp chỉ huy tác chiến trận Bạch  Đằng, ngày 8/3 năm Mậu Tý, trong  khi không đưa ra được bất cứ một  bằng chứng hay một căn cứ khoa học  nào có thể tin cậy được. Nếu ngay lúc  đó, tại đó, ĐẠI BẢN DOANH (nghĩa  là hàng NGÀN quân thủy bộ) hai vua  Trần đang đóng ở núi Thiên Liêu – Yên Đức sát đó, thì phải có giao tranh  lớn chứ (như Chương Dương, Hàm  Tử… chẳng hạn), thắng thua tại trận  rõ ràng chứ – bên nhà Trần cũng phải  cử tướng lĩnh ngang sức với đại tướng  giặc là Hữu thừa tướng Trình Bằng  (Phi) và các đại tướng cộng sự của y, trong khi, với tốc độ của kỵ binh, từ chợ Đông Hồ đến Yên Đức, và ngược  lại, chỉ khoảng 10 phút sau là đã đến  nơi. Làm sao có thể tin được, trong  tình huống sống còn ngặt nghèo đến  như thế, hai vua Trần và Quốc công  Tiết chế lại chỉ giao việc hệ trọng đó  – bảo vệ đại bản doanh của hai vua  Trần – cho một cư sĩ (- nhà sư – tu tại  gia là Trần Tung, anh Quốc Tuấn)  làm tướng, để ĐÁNH DU KÍCH,  quấy nhiễu giặc là chính, khiến chúng  mỏi mệt, phải TỰ RÚT đi (theo Lê  Tắc, sử gia nhà Nguyên ghi tại trận). Vì thế, ĐVSKTT không ghi một  chữ nào về chiến trận này. Chỉ riêng  điều ấy thôi, đã chứng tỏ hai vua Trần  KHÔNG ĐÓNG ĐẠI BẢN DOANH ở Yên Đức. Xin nhớ, Trần Tung được  phong Hưng Ninh vương không phải  do thưởng công, vì có công, sau trận  thắng quân Nguyên (năm 1289) như  các tướng lĩnh khác. Ông được phong  vương năm 1251, trong tang lễ cha  ông là Trần Liễu, do Thượng hoàng  đến dự tang, thương ông mà phong  cho ông mà thôi. Khi ấy ông là một  cư sĩ, tu tại gia. 

Đây là một vấn đề rất lớn, không  chỉ đối với một vùng đất, không chỉ  phục vụ một yêu cầu là mở ra khu du  lịch văn hóa, lịch sử và tâm linh, mà  còn là lịch sử của cả một dân tộc, vì  thế, chúng ta còn phải tiếp tục kiếm  tìm thêm, với một tâm trí thật trong  sạch, khách quan, thực sự vì khoa học, và cũng vì cả dân tộc và các thế  hệ mai sau, cần phải nghiên cứu kỹ  lưỡng hơn nữa, thu thập các bằng  chứng đáng tin cậy, đối chiếu rõ ràng,  minh bạch… không nên kết luận vội  vàng “Qua nghiên cứu, đã khẳng định Thiên Long uyển là nơi hai vua Trần  đã đóng đại bản doanh để chỉ huy tác  chiến trận Bạch Đằng năm 1288, nên  đã đủ điều kiện để công nhận Thiên  Long uyển là Di tích Quốc gia đặc  biệt…” như TS Nguyễn Văn Anh, đã  công bố trên báo Quảng Ninh cuối  tuần, số 1029, ngày 02/01/2022, và  một hai báo khác đã công bố, theo  lời ông, sau hội thảo. Vì kinh nghiệm  đã quá nhiều, cho biết rằng, sai lầm  về lịch sử là vô cùng nguy hại, hậu quả  khôn lường, vì nó sẽ làm cho việc giáo  dục truyền thống, nhất là với các thế  hệ trẻ không còn trung thực nữa và  nói chung, trong không ít trường hợp  đã xảy ra, nhưng sai lầm đó là không  có khả năng, hoặc hoàn toàn không có  khả năng sửa chữa. 

Dĩ nhiên hội thảo, với nhiều  trang kỷ yếu đã in, có những thành  công đáng ghi nhận ở nội dung khác,  nhưng đó không thuộc về bài viết  của tôi. 

—————————— 

 (*) “TRẦN TRIỀU NHÂN TÔN HOÀNG  ĐẾ NGỰ ĐỀ” (1292), tôi chép từ năm  1962: 

“Đứng thốc trên sông / một đọi đèo/Vặn hình  ra thể / dáng con Mèo/Đá xương đất thịt / da  không mốc/Cỏ vện hoa vằn / dạ chẳng meo/ Cáo thỏkinh hơi / rừng vắng ngắt/Kình nghê  tăm bặt / nước trong veo/Xanh trì vũ trụ /  chân ngoèo vững/Ắt hẳn nghìn năm / kín  chẳng nghèo.” 

Xin bạn đọc đối chiếu với thơ của hai nhà thơ  thiên tài là Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông  sau “Trần Nhân Tông” 200 năm. 

Đây là thơ Nguyễn Trãi (mất năm 1442): 

Góc thành Nam / lều một gian/No nước uống  / thiếu cơm ăn/Con đòi trốn / dường ai quyến/ Bà ngựa gầy / thiếu kẻ chăn/Ao bởi hẹp hòi/  khôn thả cá/Nhà quen thú thứa / ngại nuôi  vằn/Triều quan chẳng phải / ẩn chẳng phải/ Góc thành Nam / lều một gian 

Và thơ Lê Thánh Tông (mất năm 1497), sinh  sau Nguyễn Trãi 62 năm: 

Lòng vì thiên hạ / những lo âu/Thay việc trời  / dám trễ đâu/Trống dời canh/ còn đọc sách/ Chiêng xế bóng / chửa thôi chầu/Nhân khi cơ  biến / xem người biết/Chứa thủa kinh quyền /  xét nhẽ màu/Mựa bảo áo vàng/ chăng có việc/ Để muôn sự / trước vào tâu/Để nhận ra đâu là  thật, đâu là giả. 

Trong các giá trị lịch sử và tinh thần, sự gian  dối thực đáng sợ, luôn luôn phải được xem  xét và cảnh tỉnh (TNM)./. 

—————— 

NGUỒN: Báo HẠ LONG (trước thuộc Hội  VHNT QN nay thuộc Trung tâm Truyền  thông, cơ quan của tỉnh ủy QN) số 646 ngày  20/2/2022 

Báo THỜI BÁO VĂN HỌC NGHỆ  THUẬT số 8 (83) ngày 24/2/2022 Tạp chí SHIPPING TIMS (TP Hồ Chí  Minh) số Kỷ niệm 30/4 2022 (tác giả tự cắt bớt) Tạp chí NHÀ VĂN & CUỘC SỐNG số  9 (5/2022)

Hãy cùng Nhà văn & Cuộc sống khám phá những góc nhìn nhà văn mới!

Leave a Reply

Your email address will not be published.